58. Sớ Cúng Thiên Lôi Giải Trùng Tang Thần Sát

(Vị Cư Thượng Giới)

 

Nguyên văn:

 

伏以

位居上界、驚天動地之權、職掌雷司、輔正除邪之將、凡心不昧、聖眼非遙。拜疏爲越南國...省...縣[郡]...社...村、家居

佛修齋諷經開解重喪神煞濟生度亡祈陰超陽泰事。今齋主...等、捐取本月是日、

佛仗僧、依科肆設、壇開三晝夜、普度諸業魂、仰迓神威、鑒臨法席。今則道塲初啟、科範宣行、謹具疏文、一封拜請。恭惟

九天應元雷聲普化天尊降臨寶座。筵奉、五方蠻雷使者行令等神、同赴法壇、登臨寶座。伏願、高眞降格、今晨檢察、壇筵部下施恩、此夜解除惡和冤罷對、從茲亡者盡超昇、福至心靈、自此齋家增福壽謹疏。

佛曆...歲次...年...月...日時弟子眾等和南上疏

(疏)奉   白佛金章  弟子眾等和南上疏

 

 

Phiên âm:

 

Phục dĩ

Vị cư thượng giới, kinh thiên động địa chi quyền; chức chưởng lôi ty, phụ chánh trừ tà chi tướng; phàm tâm bất muội, Thánh nhãn phi dao.

Bái sớ vị: Việt Nam quốc ... Tỉnh … Huyện (Quận) … Xã … Thôn, gia cư phụng Phật tu trai phúng kinh khai giải Trùng Tang1 Thần Sát2 tế sanh độ vong kỳ âm siêu dương thái sự. Kim trai chủ … đẳng, quyên thủ bổn nguyệt thị nhật, quy Phật trượng tăng, y khoa tứ thiết; đàn khai tam trú dạ, phổ độ chư nghiệp hồn; ngưỡng nhạ thần uy, giám lâm pháp tịch. Kim tắc đạo tràng sơ khải, khoa phạm tuyên hành; cẩn cụ sớ văn, nhất phong bái thỉnh.

Cung duy: Cửu Thiên Ứng Nguyên Lôi Thanh Phổ Hóa Thiên Tôn3 giáng lâm bảo tòa.

Diên phụng: Ngũ Phương Man Lôi Sứ Giả4 hành lịnh đẳng thần, đồng phó pháp đàn, đăng lâm bảo tòa.

Phục nguyện: Cao chơn giáng cách, kim thần kiểm sát; đàn diên bộ hạ thi ân, thử dạ giải trừ ác sát; hòa oan bãi đối, tùng tư vong giả tận siêu thăng; phước chí tâm linh, tự thử trai gia tăng phước thọ. Cẩn sớ.

Phật lịch … Tuế thứ ... niên ... nguyệt ... nhật ... thời.

Đệ tử chúng đẳng hòa nam thượng sớ.

 

 

Dịch nghĩa:

 

Cúi nghĩ:

Thân cư Thượng Giới, kinh thiên động địa uy quyền; chức quản Lôi Đình, hộ chánh dẹp tà hùng tướng; tâm phàm khó thấy, mắt Thánh nào xa.

Sớ tâu: Nay tại Thôn …, Xã …, Huyện (Quận) …, Tỉnh, nước Việt Nam; có gia đình thờ Phật, thiết cỗ chay tụng kinh, cầu giải mở Trùng Tang, Thần Sát, cứu người sống, độ kẻ mất, cầu âm siêu dương thạnh. Trai chủ …, chọn ngày nầy tháng nầy, lạy Phật nương tăng, theo khoa thiết lễ; ba đêm ngày đàn mở, độ khắp các vong hồn; ngưỡng mong oai thần, giáng lâm pháp tịch. Nay lúc đạo tràng mới mở, khoa lễ tuyên hành, dâng trọn sớ văn, một phong lạy thỉnh.

Cúi nghĩ: Cửu Thiên Ứng Nguyên Lôi Thanh Phổ Hóa Thiên Tôn giáng xuống tòa báu.

Cùng xin: Ngũ Phương Man Lôi Sứ Giả, các thần hành lịnh, cùng đến pháp đàn, ngự trên tòa báu.

Lại nguyện: Trên cao giáng xuống, ngày nay kiểm soát; đàn cúng bộ hạ ban ơn, đêm nay giải trừ; sao ác tiêu tan oan đối, từ nay người mất thảy siêu thăng; phước đến tâm linh, mãi mãi gia đình thêm phước thọ. Kính dâng sớ.

Phật lịch … Ngày ... tháng ... năm ...

Đệ tử chúng con kính thành dâng sớ.

 

Phần chú thích:

  1. Trùng Tang (重喪): chỉ cho ngày tháng năm sinh của người mất trùng khớp với Can Chi giờ ra đi của người mất, được gọi là “nhật bất thanh (日不清, ngày không sạch, ngày không tốt).” Theo quan niệm từ ngàn xưa của Trung Quốc cũng như Việt Nam, khi có Trùng Tang thì sẽ bị “liên táng (連葬)”, tức người chết xảy ra liên tục, đặc biệt là những thân nhân của người quá cố. Các ngày được xem như là “Trùng Tang nhật (重喪日, ngày Trùng Tang)” tối kỵ gồm: ngày Giáp tháng giêng, ngày Ất tháng 2, ngày Mậu tháng 3, ngày Bính tháng 4, ngày Đinh tháng 5, ngày Kỷ tháng 6, ngày Canh tháng 7, ngày Tân tháng 8, ngày Mậu tháng 9, ngày Nhâm tháng 10, ngày Quý tháng 11 và ngày Kỷ tháng 12. Cho nên, để cầu cho người sống được bình an, tốt đẹp, ngày nhập liệm, an táng cần phải chọn thật kỹ lưỡng. Theo tác phẩm Nghi Lễ của tác giả Thích Hoàn Thông cho biết rằng các giờ Trùng Tang liên táng rất xấu, nên tránh, gồm: tuổi Thân, Tý, Thìn chết nhằm năm, tháng, ngày, giờ Tỵ; tuổi Dần, Ngọ, Tuất chết nhằm năm, tháng, ngày, giờ Hợi; tuổi Tỵ, Dậu, Sửu chết nhằm năm, tháng, ngày, giờ Dần; tuổi Hợi, Mão, Mùi chết nhằm năm, tháng, ngày, giờ Thân. Khi nhập liệm, an táng cũng như cải táng cần phải tránh các giờ nêu trên. Bên cạnh đó, có các giờ tốt nên chọn để nhập liệm như ngày Tý nên dùng giờ Giáp, Canh; ngày Sửu là giờ Ất, Tân; ngày Dần là giờ Đinh, Quý; ngày Mão là giờ Bính, Nhâm; ngày Thìn là giờ Giáp, Đinh; ngày Tỵ là giờ Ất, Canh; ngày Ngọ là giờ Đinh, Quý; ngày Mùi là giờ Ất, Tân; ngày Thân là giờ Giáp, Quý; ngày Dậu là giờ Đinh, Nhâm; ngày Tuất là giờ Canh, Nhâm; ngày Hợi nên dùng giờ Ất, Tân.
  2. Thần Sát (神煞): hay Thần Sát Tinh (神煞星), là tên gọi những ngôi sao chiếu mạng quyết định việc tốt xấu của con người. Một số sao Thần Sát thường dùng như: (1) Thiên Ất Quý Nhân (天乙貴人), người gặp sao nầy thì có duyên với mọi người, với người lớn hơn mình, với người khác phái, thích xã giao. (2) Thiên Y (天醫), người gặp sao nầy thì có năng lực rất mạnh như học tập, lý giải, quán sát, mô phỏng, tâm hiếu kỳ, tâm nghiên cứu, trực giác, v.v. (3) Thiên Đức (天德), người gặp sao nầy thì có tài trí mưu lược xuất sắc, tâm vinh dự cao, năng lực lớn, phàm mọi việc gặp hung dữ hóa thành tốt, được quý nhân giúp đỡ. (4) Nguyệt Đức (月德), người gặp sao nầy thì có duyên với mọi người, xã giao, tâm cung kính, tâm trách nhiệm, năng lực thích ứng cao. (5) Nguyệt Đức Hợp (月德合), người gặp sao nầy thì có năng lực quán sát, đối ứng, bàn chuyện kinh doanh rất mạnh. (6) Phước Tinh (福星), người gặp sao nầy thì trong đời nầy có tiền tài dư dật, kinh tế không bao giờ gặp nguy cơ, có quý nhân giúp đỡ, thường có phước, có năng lực làm thân, kết duyên lành với mọi người. (7) Văn Xương (文昌), người gặp sao nầy thì có năng lực viết lách, văn nghệ, học tập. (8) Tam Kỳ Quý (三奇貴), người gặp sao nầy thì có năng lực học tập tinh chuyên, sức tập trung mạnh, đầu óc làm việc linh mẫn, cơ trí nhạy bén, dễ thành nhân tài có kỹ năng chuyên nghiệp, như công trình sư, nhà tư vấn, v.v. (9) Lục Tú (六秀), là ngôi sao có năng lực viết văn trác việt, người gặp sao nầy thì có năng lực học tập, tư duy rất mạnh, thuộc nhà nghệ thuật ở trạng thái tĩnh như họa sĩ, nhà thư pháp, sáng tác khúc từ, v.v. (10) Thập Linh Nhật (十靈日), là ngôi sao thuộc về tôn giáo, người gặp sao nầy thì có trực giác linh nhuệ, khéo quán sát lời nói, nhìn sắc mặt người, năng lực lãnh ngộ, khéo hiểu ý người, v.v. (11) Khôi Cương (魁罡), người gặp sao nầy thì về ăn uống nên thận trọng, chớ ăn thịt bò, chó; duyên hôn nhân rắc rối, tai tiếng, có đủ tinh thần độc lập tự chủ, năng lực tổ chức mạnh. (12) Học Đường (學堂), người gặp sao nầy thì có năng lực bắt chước, sáng tác, tưởng tượng, lý giải. (13) Học Sĩ (學士), người gặp sao nầy thì có tâm nghiên cứu, lòng hiếu kỳ, muốn tìm hiểu, có năng lực học thuộc lòng, nhớ dai. (14) Kim Quỹ (金匱), người gặp sao nầy thì có đầy đủ năng lực sáng tác, lãnh ngộ, cầm quyền, quyết đoán, quy hoạch. (15) Tấn Thần (進神), người gặp sao nầy thì có ý thức chủ quan rất mạnh, kiêu ngạo, tự phụ, không chịu phục tùng bất cứ ai, nóng nảy. (16) Lộc Thần (祿神), người gặp sao nầy thì có thân thể tráng kiện, tinh thần vững mạnh, sức chiến đấu bền bỉ, cả hai vợ chồng đều tạo nên sự nghiệp vẻ vang. (17) Bối Lộc (背祿), đại diện cho những người xem thường tổ tiên, ly hương biệt xứ, không được hưởng phúc ấm của tổ tông. (18) Kiến Lộc (建祿), đại diện cho những người tạo công lập nghiệp tay trắng một mình, không được phúc ấm của song thân. (19) Chuyên Lộc (專祿), đại diện cho những người thân thể tráng kiện, tinh thần vững mạnh, sức chiến đấu bền bỉ, cả hai vợ chồng đều tạo nên sự nghiệp vẻ vang. (20) Quy Lộc (歸祿), đại diện cho những người giao tế rộng rãi, tài lộc đầy đủ, tránh chuyện vay mượn, có thể tránh kiện tụng. (21) Hoa Cái (華蓋), người gặp sao nầy thì có tâm cầu học, tự động tìm tòi, tự ngộ để đạt đến kết quả cao, có thiên tánh về mỹ thuật, thiết kế, trang hoàng, âm nhạc; về phương diện văn học thì rất hứng thú và có thiên tài; đây là ngôi sao chỉ chuyên về nghệ thuật, tôn giáo, nên có tánh nghiên cứu, muốn tìm cầu, năng lực học tập, tính chất mẫn cảm. (22) Cô Thần (孤辰), người gặp sao nầy thì có tánh cách cô đơn, trầm mặc, không nói nhiều, tâm trong sạch, ít ham muốn, thường an phận, không có tâm cầu tiến. (23) Quả Tú (寡宿), người gặp sao nầy thì có duyên với người khác phái rất ít, duyên hôn nhân cũng mong manh, chủ nghĩa độc thân. (24) Nguyên Thần (元辰), là sao hao tổn, miệng tiếng. (25) Kim Dư (金輿), là sao về tài của cùng với quan hệ phối ngẫu, được hỗ trợ về chuyện phối ngẫu, kỹ thuật. (26) Kim Tinh (金星), người gặp sao nầy thì anh minh, trí tuệ, dũng cảm, quả quyết, kiên nhẫn, cương nhu đều có đủ, chú trọng vinh dự, quyền uy. (27) Thiên Xá (天赦), người gặp sao nầy thì một đời bị kiện tụng cửa quan, lao ngục, tai hại ngoài ý muốn, một đời thường đều có thể gặp xấu hóa tốt, có kinh động nhưng không nguy hiểm. (28) Phước Tinh (福星), người gặp sao nầy thì có quý nhân tương trợ, kinh tế phát triển, một đời tài lộc, ăn uống sung túc, có duyên xã giao, năng lực kết duyên lành. (29) Tướng Tinh (將星), người gặp sao nầy thì hiển đạt về quan quyền, có thể nắm quyền bính trong tay, có năng lực quản lý, quyết đoán, cơ trí. (30) Dịch Mã (驛馬), là sao đổi dời, đi xa, biến động. (31) Âm Dương Sát (陰陽煞), người gặp sao nầy thì nên tiến hành duyên hôn nhân chậm, không nên sớm, mới có thể trừ được lo âu thay đổi chuyện hôn nhân, nên thận trọng trong việc giao tế với người khác phái, mới có thể tránh được chuyện thị phi, tranh giành. (32) Kiếp Sát (劫煞), người gặp sao nầy thì có cơ trí linh mẫn, phản ứng nhạy bén, tâm háo thắng. (33) Quải Kiếm Sát (掛劍煞), người gặp sao nầy thì dễ mắc phải các bệnh tật về gân cốt, đường ruột, cơ quan vận động, v.v., hằng ngày nên đề phòng các vật kim loại bén nhọn, vật nguy hiểm gây thương tích; dễ bị thương tích đánh đập, ngã quỵ, té xuống đất. (34) Câu Giao (勾絞), là sao phiền phức về chuyện cảm tình, hôn nhân. (35) Đào Hoa (桃花), đại diện cho sức hấp dẫn, thu hút, năng lực thưởng thức, trang sức, có duyên xã giao. (36) Thiên Hỷ (天喜), là sao vui sướng, như ý, có cảm giác thâm sâu, năng lực hòa đồng, tình người. (37) Hồng Diễm (紅艷), là sao nghệ thuật lãng mạn, có đủ năng lực thưởng thức, thiết kế trang phục, trang hoàng, có duyên với người khác phái. (38) Hồng Loan (紅鸞), người gặp sao nầy thì có duyên với người khác phái, tư tưởng lãng mạn, có năng lực phối hợp sắc màu nghệ thuật tranh tĩnh vật. (39) Lưu Hà (流霞), người gặp sao nầy thì trong quá trình sinh sản dễ gặp nguy hiểm, lưu sản, dễ mắc bệnh tuần hoàn huyết dịch về tim mạch. (40) Vong Thần (亡神), là sao ẩn tàng, không lộ hiện tung tích, người gặp sao nầy thì giỏi về mưu lược, vui, buồn, tức giận đều không thể hiện ra ngoài sắc mặt. (41) Dương Nhận (羊刃), là sao về chức võ, chủ yếu người gặp sao nầy thì có tâm háo thắng, không chịu khuất phục, dõng mãnh, đảm đương, lanh lẹ. (42) Huyết Nhận (血刃), là sao thương tích ngoài ý muốn, bất ngờ, người gặp sao nầy thì hằng ngày nên thận trọng về bỏng lửa, thương tích đánh đập, các vật kim loại, bén nhọn, chú ý về giao thông. (43) Phi Nhận (飛刃), là sao gặp công kích bất ngờ, tranh tụng, thị phi. (44) Cách Giác (隔角), là sao chủ về việc kiện tụng cửa quan, miệng tiếng, thị phi; nếu gặp Hình Xung (刑沖) thì ắt sẽ có tai họa về kiện tụng, lao ngục. (45) Không Vong (空亡), kim loại rỗng thì kêu to, lửa trống thì sẽ phát lớn, cây rỗng thì mục, đất rỗng thì lỡ sụt; người gặp sao nầy thì vô duyên với thân thích, nên tinh tấn tu hành. Ngoài ra, còn có 12 ngôi sao Thần Sát, được gọi là Lưu Niên Tuế Số Thập Nhị Thần Sát (流年歲數十二神煞), lưu hành trong 12 tháng, gồm: (1) Thái Tuế (太歲), có câu kệ rằng: “Thái Tuế đương đầu tọa, chư thần bất cảm đương, tự thân vô khắc hại, tu dụng khốc đa nương (太歲當頭坐諸神不敢當自身無剋害須用哭爹娘, Thái Tuế ngay đầu tọa, các thần chẳng dám chường, tự thân không nguy hại, nên thương khóc mẹ cha).” Sao nầy có công năng đè ép các sao Thần Sát, người gặp sao nầy nếu gặp vận thì xấu nhiều tốt ít, chủ yếu gặp tai nạn bất trắc, nên làm việc phước thiện. (2) Thái Dương (太陽), có câu kệ rằng: “Thái Dương cát tinh chiếu, cầu tài ngộ trân bảo, âm dương hữu hòa hợp, định cảm phước lai bảo (太陽吉星照、求財遇珍寶、陰陽有和合、定感福來保, Thái Dương sao tốt chiếu, cầu tài gặp của báu, âm dương có hòa hợp, tất có phước đến nhà).” Người gặp sao nầy chủ yếu chiếu sáng hóa tốt, lấy lễ đãi người, thông minh cần mẫn, có chuyện vui giáng lâm. (3) Tang Môn (喪門), câu kệ là: “Tang Môn tối vi hung, hiếu phục trùng trùng phùng, phá tài tinh ngoại hiếu, nùng huyết kiến tai nghinh (喪門最爲凶、孝服重重逢、破財幷外孝、濃血見災迎, Tang Môn thật rất hung, tang phục lại trùng phùng, phá tài thêm bất hiếu, máu chảy thấy tai ương).” Người gặp sao nầy chủ yếu có đám tang, khóc lóc, hiếu sự hay hung tai, bị trộm cướp, con nhỏ sợ bị mất mạng vì xe cộ. (4) Thái Âm (太陰), câu kệ là: “Thái Âm nhập mạng lai, thiêm hỷ hựu tấn tài, quý nhân tương tiếp dẫn, canh tác ngộ tài phong (太陰入命來、添喜又進財、貴人相接引、耕作遇財豐, Thái Âm gặp mạng nầy, thêm vui lại có tài, quý nhân thường giúp đỡ, canh tác gặp của hay).” Sao nầy chủ yếu tích tụ tài của hoặc thuộc loại ngũ quỷ đem tài của đến, người gặp sao nầy kinh doanh rất tốt, mỗi ngày càng phát tài, rất hợp với người nữ. (5) Quan Phù (官符), có câu kệ là: “Quan Phù nhập mạng hung, khẩu thiệt quan ty trùng, phá tài kiêm ngoại hiếu, tác phước đảo thương cùng (官符入命凶口舌官司重破財兼外孝作福禱蒼窮, Quan Phù gặp mạng hung, miệng tiếng chốn quan trường, phá tài thêm bất hiếu, làm phước cầu khắp cùng).” Người gặp sao nầy thường gặp kẻ tiểu nhân, tất gây ồn ào nơi cửa quan, chọn bạn nên cẩn thận, nên khuyên kẻ tiểu nhân làm phước. (6) Tử Phù (死符), bài kệ rằng: “Tử Phù nhập mạng lai, hiếu phục trùng trùng phùng, phụ mẫu thê nhi khắc, tác phước miễn tai ương (死符入命來、孝服重重逢、父母妻兒剋、作福免災殃, Tử Phù gặp mạng đây, tang phục lại chất chồng, mẹ cha vợ con khắc, làm phước miễn tai ương).” Sao nầy chủ yếu có tai họa đột xuất như hình phạt của quan ty, bệnh tật, tranh đấu, phá tài, v.v. Người gặp sao nầy nên thận trọng khi đi băng qua khe nước, nên tìn đường vòng mà đi. (7) Tuế Phá (歲破), bài kệ rằng: “Tuế Phá nhập mạng lai, nhật nguyệt phá tiền tài, lục súc hữu tổn thất, hợp gia vĩnh vô tai (歲破入命來、日月破錢財、六畜有損失、合家永無災, Tuế Phá gặp mạng đây, trời trăng phá tiền tài, gia súc có tổn thất, cả nhà hết ương tai).” Tuế Phá có nghĩa là xung phá Thái Tuế, chủ yếu làm hao phá tài vật cũng như trong nhà nhiều tai họa kéo dài trong nữa năm. (8) Nguyệt Đức (月德), bài kệ rằng: “Nguyệt Đức nhập mạng lai, tứ quý tấn hoành tài, tại gia dã vô sự, xuất lộ dã vô tai (月德入命來、四季進橫財、在家也無事、出路也無災, Nguyệt Đức gặp mạng đây, bốn mùa thêm tiền tài, trong nhà cũng vô sự, ra đường chẳng hung tai).” Sao nầy chủ yếu là đức của người lớn, được gọi là Long Đức (龍德), nhờ bố thí, làm việc thiện tạo lợi lạc, trăm việc gặp xấu hóa thành tốt. (9) Bạch Hổ (白虎), bài kệ rằng: “Bạch Hổ khiếu nhai nhai, nhân đinh tổn huyết tài, ngưu sự tài quá khứ, mã sự hựu tấn lai (白虎叫涯涯、人丁損血財、牛事才過去、馬事又進來, Bạch Hổ kêu hoài hoài, người thêm tổn tiền tài, chuyện trâu về quá khứ, chuyện ngựa lại về đây).” Sao nầy chủ yếu có tai họa về tang lễ, phá tài, họa về xe cộ, thương tật; nếu có hóa giải thì sẽ nhẹ bớt; nếu không hóa giải thì quá xấu. (10) Phước Đức (福德), bài kệ rằng: “Phước Đức nhập mạng du, niên nguyệt tấn tứ ngưu, thiêm hộ tinh tấn khẩu, tài hỷ lưỡng toàn chu (福德入命遊、年月進四牛、添戶並進口、財喜兩全週, Phước Đức đến mạng chơi, năm tháng tăng bò trâu, thêm nhà lại thêm người, tài vui cả hai tròn).” Sao nầy chủ yếu tốt đẹp, hanh thông, vui vẻ, có thiên tướng, được trời phù hộ, đến đâu gặp xấu hóa tốt, đại thành công. (11) Điếu Khách (吊客), bài kệ rằng: “Điếu Khách nhập mạng hung, nội ngoại hiếu phục phùng, quan tai tinh nùng huyết, tiểu khẩu đa tao độn (吊客入命凶、內外孝服逢、官災並濃血、小口多遭迍, Điếu Khách đến mạng hung, trong ngoài tang phục chung, tai vạ máu loang chảy, thận trọng miệng tiếng tăm).” Sao nầy chủ yếu về tang phục, chuyện hung tai, bệnh tật, lo buồn khóc than, trộm cắp, tai nạn về cốt nhục. (12) Bệnh Phù (病符), bài kệ rằng: “Bệnh Phù nhập mạng hung, hiếu phục trùng trùng phùng, phụ phục hữu hình khắc, tác phước miễn tai ương (病符入命凶孝服重重逢父服有刑剋作福免災殃, Bệnh Phù đến mạng hung, tang phục lại trùng phùng, thân phụ mang hình phạt, làm phước miễn tai ương).” Sao nầy chủ yếu bệnh kéo dài lâu, trong một năm hay vài tháng, kỵ thấy xe tang hoặc ăn các đồ tang lễ, nên cúng tế thì có thể giải được.
  3. Cửu Thiên Ứng Nguyên Lôi Thanh Phổ Hóa Thiên Tôn (九天應元雷聲普化天尊): còn gọi là Cửu Thiên Ứng Nguyên Lôi Thanh Phổ Hóa Chơn Vương (九天應元雷聲普化), tức Lôi Thần (雷神), Lôi Tổ (雷祖), Thiên Lôi (天雷). Về lai lịch, Vô Thượng Cửu Tiêu Ngọc Thanh Đại Phạm Tử Vi Huyền Đô Lôi Đình Ngọc Kinh (無上九霄玉清大梵紫微玄都雷霆玉經) cho rằng Lôi Tổ là hóa thân của Ngọc Thanh Chơn Vương (玉清), con thứ 9 của Phù Lê Nguyên Thỉ Thiên Tôn (浮黎元始天尊). Cũng có thuyết cho rằng Hoàng Đế Hiên Viên (軒轅) sau khi lên cõi tiên thì trở thành Lôi Tinh (雷精), thần chủ quản về sấm sét, mưa. Lôi Tổ là phong hiệu của ông, cư trú tại Thần Tiêu Ngọc Phủ (神霄玉府), trong Bích Tiêu Phạm Khí (碧霄梵氣), cách Lôi Thành (雷城) khoảng 2.300 dặm. Lôi Thành là nơi Thiên Đình làm sấm, bên trái có Ngọc Xu Ngũ Lôi Sứ Viện (玉樞五雷使院), bên phải có Ngọc Phủ Ngũ Lôi Sứ Viện (玉府五雷使院). Trước Thiên Tôn có trống sấm 36 mặt, do 36 vị thần quản lý. Khi làm sấm, Lôi Tổ đánh một tiếng trống, tức thời Lôi Công (雷公), Lôi Sư (雷師) phát ra tiếng sấm. Trong Lôi Bộ có 36 thành viên, mỗi người đều có công trạng và được phong thần. Tiểu thuyết Phong Thần Diễn Nghĩa (封神演義) nhà Minh cho Văn Trọng (聞仲) là Cửu Thiên Ứng Nguyên Lôi Thanh Phổ Hóa Thiên Tôn, thống lãnh 24 bộ hạ kéo mây góp mưa, làm sấm. Trong số đó, tại các đền thờ Đạo Giáo thường có tôn thờ các vị Thiên Tướng như Luật Lịnh Đại Thần Đặng Nguyên Soái Trung (律令大神鄧元帥忠), Ngân Nha Diệu Mục Tân Thiên Quân Hoàn (銀牙耀目辛天君環), Phi Tiệp Báo Ứng Trương Sứ Giả Tiết (飛捷報應張使者節), Tả Phạt Ma Sứ Cẩu Nguyên Soái Chương (左伐魔使苟元帥章), Hữu Phạt Ma Sứ Tất Nguyên Soái Hoàn (右伐魔使畢元帥環). Bên cạnh đó, lại có Đào Thiên Quân Vinh (陶天君榮), Bàng Thiên Quân Hồng (龐天君洪), Tần Thiên Quân Hoàn (秦天君完), Triệu Thiên Quân Giang (趙天君江), Đổng Thiên Quân Toàn (董天君全), Viên Thiên Quân Giác (袁天君角), v.v. Từ ngàn xưa, người ta đã sùng bái Lôi Công, Lôi Thần; nhưng mãi đến cuối thời Bắc Tống (北宋, 960-1127) mới hình thành việc thiết trí ra Lôi Bộ do Cửu Thiên Ứng Nguyên Lôi Thanh Phổ Hóa Thiên Tôn quản lãnh. Trong phần Lễ Chí (禮志) của Minh Sử (明史) có giải thích rằng: “Lôi Thanh Phổ Hóa Thiên Tôn giả, Đạo gia dĩ vi tổng ty Ngũ Lôi, hựu dĩ lục nguyệt nhị thập tứ nhật vi Thiên Tôn hiện thị chi nhật, cố tuế dĩ thị nhật khiển quan nghệ Hiển Linh Cung trí tế (雷聲普化天尊者、道家以爲總司五雷、又以六月二十四日爲天尊現示之日、故歲以是日遣官詣顯靈宮致祭, Lôi Thanh Phổ Hóa Thiên Tôn, Đạo Giáo cho rằng người tổng quản Ngũ Ty, lại lấy ngày 24 tháng 6 làm ngày Thiên Tôn thị hiện; cho nên hằng năm vào ngày nầy sai các quan đến Hiển Linh Cung cúng tế).” Vì vậy, cứ mỗi năm vào ngày 24 tháng 6 Âm Lịch, tín đồ Đạo Giáo đến các đền thờ dâng hương, cầu phước, tiêu trừ tai họa. Trong nghi lễ trai đàn của Chánh Nhất Phái (正一派) thuộc Đạo Giáo có thiết bài vị của Lôi Tổ, và trong khoa nghi cũng có văn triệu thỉnh chư vị Thiên Quân trong Lôi Bộ. Như trong lòng văn sớ trên, khi tiến hành tụng kinh cầu nguyện giải Trùng Tang, Thần Sát thì cần phải tuyên sớ cung thỉnh Thiên Lôi giáng lâm đàn tràng chứng minh, gia hộ để được giải nạn, hạn ách, tiêu tai cát tường.
  4. Ngũ Phương Man Lôi Sứ Giả (五方蠻雷使者): tên gọi vị sứ giả bộ hạ của Lôi Tổ trong Lôi Bộ. Từ nầy thấy xuất hiện trong Cửu Thiên Ứng Nguyên Lôi Thanh Phổ Hóa Thiên Tôn Ngọc Xu Bảo Kinh (九天應元雷聲普化天尊玉樞寶經) của Đạo Giáo: “Cửu Thiên Lôi Công Tướng Quân, Ngũ Phương Lôi Công Tướng Quân, Bát Phương Vân Lôi Tướng Quân, Ngũ Phương Man Lôi Sứ Giả, Lôi Bộ Binh Sứ Giả, Mạc Trám Phán Quan, phát hiệu thi lịnh, tật như phong hỏa (九天雷公將軍五方雷公將軍八方雲雷將軍五方蠻雷使者雷部兵使者莫賺判官發號施令疾如風火, Cửu Thiên Lôi Công Tướng Quân, Ngũ Phương Lôi Công Tướng Quân, Bát Phương Vân Lôi Tướng Quân, Ngũ Phương Man Lôi Sứ Giả, Lôi Bộ Binh Sứ Giả, Mạc Trám Phán Quan ban hành hiệu lịnh, nhanh như gió lửa).” Hay trong Tử Vi Huyền Đô Lôi Đình Ngọc Kinh (紫微玄都雷霆玉經) cũng có đoạn rằng: “Bắc Cực Tử Vi Đại Đế thống lãnh Tam Giới, chưởng ác Ngũ Lôi; Thiên Bồng Quân, Thiên Du Quân, Dực Thánh Quân, Huyền Võ Quân phân ty lãnh trị; Thiên Cương Thần, Hà Khôi Thần, thị vi chiêu lôi hịch đình chi ty; Cửu Thiên Lưu Kim Hỏa Linh Đại Tướng Quân, Thiên Đinh Lực Sĩ, Lục Đinh Ngọc Nữ, Lục Giáp Tướng Quân, thị vi tiết độ lôi đình chi sứ; Cửu Thiên Khiếu Mạng Phong Lôi Sứ Giả, Lôi Lịnh Sứ Giả, Hỏa Lịnh Đại Tiên Hỏa Bá, Phong Lịnh Hỏa Lịnh Phong Bá, Tứ Mục Hạo Ông, Thương Nha Phích Lịch Đại Tiên, thị vi nhiếp hạt lôi đình chi thần; Hỏa Bá Phong Đình Quân, Phong Hỏa Nguyên Minh Quân, Lôi Quang Nguyên Thánh Quân, Vũ Sư Trượng Nhân Tiên Quân, thị vi lôi đình phong vũ chi chủ; trung hữu Tam Ngũ Thiệu Dương Lôi Công Hỏa Xa Thiết Diện Chi Thần, trung hữu Phụ Phong Mãnh Lại Ngân Nha Diệu Mục Tiên Hỏa Luật Lịnh Đại Thần, Lang Nha Mãnh Lại Đại Phán Quan, Ngũ Lôi Phi Tiệp Sứ Giả, Ngũ Phương Lôi Công Tướng Quân, Bát Phương Vân Lôi Đại Tướng, Ngũ Phương Man Lôi Sứ Giả, Tam Giới Man Lôi Sứ Giả, Cửu Xã Man Lôi Sứ Giả, thật ty kỳ lịnh, dụng tán kỳ quyền (北極紫微大帝統禦三界、掌握五雷、天蓬君、天猷君、翊聖君、玄武君分司領治、天罡神、河魁神、是爲召雷檄霆之司、九天流金火鈴大將軍、天丁力士、六丁玉女、六甲將軍、是爲節度雷霆之使、九天嘯命風雷使者、雷令使者、火令大仙火伯、風令火令風伯、四目皓翁、蒼牙霹靂大仙、是爲攝轄雷霆之神、火伯風霆君、風火元明君、雷光元聖君、雨師丈人仙君、是爲雷霆風雨之主、中有三五邵陽雷公火車鐵面之神、中有負風猛吏銀牙耀目飆火律令大神、狼牙猛吏大判官、五雷飛捷使者、五方雷公將軍、八方雲雷大將、五方蠻雷使者、三界蠻雷使者、九社蠻雷使者、實司其令、用贊其權, Bắc Cực Tử Vi Đại Đế thống lãnh Ba Cõi, chưởng quản Ngũ Lôi; Thiên Bồng Quân, Thiên Du Quân, Dực Thánh Quân, Huyền Võ Quân phân chia các ban mà thống trị; Thiên Cương Thần, Hà Khôi Thần là các thần quản lý việc kêu sấm gọi sét; Cửu Thiên Lưu Kim Hỏa Linh Đại Tướng Quân, Thiên Đinh Lực Sĩ, Lục Đinh Ngọc Nữ, Lục Giáp Tướng Quân là sứ điều chỉnh sấm sét; Cửu Thiên Khiếu Mạng Phong Lôi Sứ Giả, Lôi Lịnh Sứ Giả, Hỏa Lịnh Đại Tiên Hỏa Bá, Phong Lịnh Hỏa Lịnh Phong Bá, Tứ Mục Hạo Ông, Thương Nha Phích Lịch Đại Tiên là thần cai quản sấm sét; Hỏa Bá Phong Đình Quân, Phong Hỏa Nguyên Minh Quân, Lôi Quang Nguyên Thánh Quân, Vũ Sư Trượng Nhân Tiên Quân là chủ tể quản lý gió mưa, sấm sét; trong đó có Thần Tam Ngũ Thiệu Dương Lôi Công Hỏa Xa Thiết Diện, trong đó lại có Phụ Phong Mãnh Lại Ngân Nha Diệu Mục Tiên Hỏa Luật Lịnh Đại Thần, Lang Nha Mãnh Lại Đại Phán Quan, Ngũ Lôi Phi Tiệp Sứ Giả, Ngũ Phương Lôi Công Tướng Quân, Bát Phương Vân Lôi Đại Tướng, Ngũ Phương Man Lôi Sứ Giả, Tam Giới Man Lôi Sứ Giả, Cửu Xã Man Lôi Sứ Giả thật sự thi hành lịnh của Bắc Cực Tử Vi Đại Đế để tán dương quyền lực Người).”